conlulu

Thành viên mới
HOÀNG ĐÌNH ÁI (1527-1607)
Ông là người huyện Vĩnh Phúc (nay là huyện Vĩnh Lộc , Thanh Hoá ), là con nhà cậu của Lượng Quốc Công Trịnh Kiểm . Ông là người có học thức , thông binh pháp , trong thời gian nhà Lê Trung Hưng ở Thanh Hoá chống Mạc ,lập nhiều công lớn ,được phong Quảng Tây Hầu .
Năm 1557 , ông được phong Đô đốc chỉ huy sứ Vệ Cẩm y .Năm 1558 , ông được phong tước Vinh Quận Công , lúc ấy ông mới 32 tuổi .
Năm 1570 , Lượng Quốc Công Trịnh Kiểm mất , Trịnh Cối mưu nổi loạn đầu hàng nhà Mạc , ông cùng với các tướng Hà Thọ Lộc , Nguyễn Hữu Lưu dẹp tan cuộc biến loạn đó . Lợi dụng tình hình rối ren đó , Mạc Kính Điển kéo quân vào đánh . Ông được cử cùng với Đặng Huấn đem quân ra đường bên hữu , đến đâu giặc đều tan vỡ cả , bình định được các huyện Quảng Xương , Nông Cống , Ngọc Sơn .
Năm 1573 , đời Lê Thế Tông ông được phong Thái Phó . Cũng trong năm này , quân Mạc do Mạc Kính Điển chỉ huy lại vào đánh phá , ông dự chiến phá tan được ở Cẩm Thuỷ , Đường Sơn .
Năm 1581 , tướng Mạc Đôn Nhượng thống lĩnh các đạo quân kéo vào đánh phá, chung vượt đường biển đến huyện Quảng Xương , đóng quân ở núi Đường Ngang . Ông được cử thống lĩnh các tướng đem quân chống giữ . Ông họp các tướng chia làm ba đạo , bảo cùng dẫn quân đều tiến , còn mình tự đốc đại quân , ra hiệu lệnh tiến quân đánh nhau với quân Mạc một trận lớn. Quan quân nhuệ khí rất mạnh , quân Mạc đại bại , Mạc Đôn Nhượng phải thu tàn binh trốn về Kinh ấp .Sau trận đó , ông được phong Thái Uý (1582 )
Năm 1591 tình hình đã có nhiều biến chuyển , quân đội đã mạnh nên Trịnh Tùng chủ trương tiến quân ra Bắc , ông được cử chỉ huy đạo quân thứ hai là Dinh hữu khu , đánh tan quân Mạc ở Phấn Thượng ( Sơn Tây ), bắt sống được tương giặc là Nguyễn Quyện , tướng giặc là Bùi Văn Khuê xin hàng . Cuối năm 1592 ông lại đem quân phá tan quân Mạc Kính Chỉ ở Thanh Lâm . Đại quân Mạc bị tiêu diệt
Năm 1593 khi diêt xong nhà Mạc , lấy lại được kinh đô , lúc bàn công ban thưởng ông được gia phong Hữu tướng , Thái uý , tước Vinh Quốc Công .
Mấy năm sau đuổi hẳn tàn binh nhà Mạc lên Cao Bằng , ông được phong làm Thái Tể .
Năm 1599 , Lê Kính Tông lên ngôi , ông được gia phong làm Đồng bình chương sự , cho tham dự việc triều chính .
Ông mất năm 1607 , thọ 81 tuổi , được truy phong Mậu Nghĩa Công , ban tên thuỵ là Hậu Đức , cho khắc bia '' thần đạo '' để ghi công .
 

conlulu

Thành viên mới
LÊ VĂN AN (? - 1437)

Danh tướng của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Ông quê ở làng Mục Sơn (nay là xã Xuân Bái, huyện Thọ Xuân, Thanh Hoá),tham dự Hội thề Lũng Nhai (1416). Khi cuộc khởi nghĩa nổ ra (1418) ông đã chỉ huy quân Thiết Đột, đánh trên trăm trận lớn nhỏ, rất dày dạn kinh nghiệm trận mạc. Ông đã tham gia một số trận đánh quan trọng như : trận Khả Lưu, trận Tân Bình - Thuận Hoá (1424); vây hãm và dụ hàng giặc ở thành Nghệ An (1425). Năm 1427, ông cùng với tướng Lê Lý (tức Nguyễn Lý) được lệnh đem 3 vạn quân hỗ trợ cho tướng Lê Sát ở Chi Lăng - Xương Giang. Ông đã lập công lớn trong trận đánh Xương Giang (11- 1427).
Sau ngày toàn thắng, với những công lao nói trên ông được phong Nhập nội tư mã, hàm Suy trung Bảo chính công thần, tước Đình Thượng Hầu.
Năm 1434, nhân có biến loạn ở Lạng Sơn, ông được cử chức Tư mã Bắc đạo, đem quân đi đánh dẹp. Lập công, tuy được thăng chức Nhập nội Đại tư mã, Đô đốc Tổng quản Bắc đạo nhưng vẫn bị chê trách (vì đã bắt bớ tràn lan, không làm yên lòng dân).
Năm 1437 ông mất, được truy tặng Tư Không, ban cho tên thuỵ là Trung Hiến.
 

conlulu

Thành viên mới
NGUYỄN ÁNH (1762-1819)

Vua đầu tiên,sáng lập triều đại nhà Nguyễn,là cháu của chúa Định-Nguyễn Phúc Thuần
Năm 1777,sau khi Nguyễn Phúc Dương và Nguyễn Phúc Thuần bị Tây Sơn giết ,con cháu chúa Nguyễn phải trốn tránh để khỏi bị sát hại Nguyễn Ánh là một người quả cảm,có chí lớn .Ông đã tập hợp lục lượng để chống Tây Sơn khôi phục lại cơ nghiệp của nhà chúa.Năm1780,Nguyễn Ánh lên ngôi vương ở Gia Định,tiếp tục chống quân Tây Sơn.Sau nhiều năm thất bại phải chốn tránh ,hai lần chốn ra đảo Phú Quốc,ông đã cầu viện sự giúp đỡ của ngoại bang mượn năm vạn quân Xiêm sang nhưng đã bị Nguyễn Huệ đánh tan trong trận Rạch Gầm - Xoài Mút (1875); cho con là Hoàng Tử Cảnh sang Pháp để cầu viện trợ và kí hiệp ước ngày 28/11/1787, nhưng hiệp ước này đã không được thực hiện.
Năm 1787 ,nhân khi anh em Tây Sơn bất hòa ,xung đột , tranh quyền đoạt vị ,Nguyễn Ánh đã đem quân đánh chiếm lại được Gia Định.Khi lực lượng đã mạnh,đến năm 1801 ,Nguyễn ánh đã thu phục lại được thành Phú xuân và năm sau đã chiếm được kinh đô Thăng Long,lật đổ nhà Tây Sơn ,làm chủ cả đất nước lên ngôi vua,đặt niên hiệu là Gia Long.Đổi quốc hiệu là Việt Nam (1804)
Sau khi lên ngôi ông đã ra lệnh trả thù nhà Tây Sơn một cách tàn bạo.Để đưa đất nước vào thế ổn định, Gia Long đã đặt quan hệ ngoại giao với nhà Thanh,liên hệ với Xiêm La,Chân Lạc,Ai Lao : chú trọng quy định pháp luật,năm 1815 bộ " Quốc triều hình luật " (còn gọi là "luật Gia Long " ) được ban hành gồm 22 quyển với 398 điều ; cho tổ chức lại nhà nước từ trung ương đến địa phương,lập sổ hộ tịch để dễ kiểm soát, lệnh cho các làng ,xã trong toàn quốc phải lập sổ địa bạ ,định thuế khóa,....
Đồng thời ông cũng có nhiều hành động nhằm chấn hưng văn hóa giáo dục.Từ năm 1802 ,Nguyễn Ánh đã ra lệnh soạn các bộ sử : "Chính biên" ,"tiền biên ", "Cương mục".Năm 1806 ,sai biên soạn bộ "Nhất thống địa dư chí" gồm 10 quyển,cho lập các văn miếu ở địa phương, phát triển Nho học,mở khoa thi Hương.
Năm 1819,ông mất,thọ 59 tuổi sau khi đổi ngôi cả chúa và vua tổng cộng 39 năm.
 

conlulu

Thành viên mới
PHẠM BÀNH (1827-1887)

Ông quê ở làng Tương Xá (nay thuộc xã Hoà Lộc, huyện Hậu Lộc, Thanh Hoá), đậu cử nhân khoa Giáp Tý (1864), làm quan đến chức án sát tỉnh Nghệ An, nổi tiếng thanh liêm và biết quan tâm đến đời sống nhân dân.
Năm 1885,hưởng ứng chiếu Cần Vương, ông bỏ quan về quêcùng với Hoàng Bật Đạt mộ quan khởi nghĩa. Giữa năm 1886 ông được cử cùng với Hoàng Bật Đạt, Đinh Công Tráng và một số tướng lĩnh khác xây dựng căn cứ Ba Đình nhằm bảo vệ cửa ngõ miền Trung và làm bàn đạp toả đánh địch ở đồng bằng. Căn cứ Ba Đình thuộc địa phận huyện Nga Sơn (Thanh Hoá). Sở dĩ gọi là Ba Đình vì nơi đây gồm 3 làng: Mĩ Khê, Thượng Thọ, Mậu Thịnh ở liền nhau, mỗi làng có một ngôi đình, đứng ở làng này sẽ nhìn thấy đình ở hai làng bên và có một ngôi nghè chung, Lập căn cứ Ba Đình nghĩa quân có thể kiểm soát và khống chế đường số 1(là con đường đi yết hầu của địch từ Bắc vào Nam), hơn thế nữa địa thế nơi đây rất thuận lợi cho việc xây dựng một căn cứ phòng ngự kiên cố và từ đó nghĩa quân có thể toả ra ngăn chặn những hoạt động của địch ở khu vực giữa Ninh Bình và Thanh Hoá.
Sau những thất bại nặng nề ở Ba Đình, thực dân Pháp chủ trương tẩp trung đủ mọi binh chủng, có pháo binh yểm trợ đã tiến hành bao vây và mở nhiều đợt tấn công mới hạ nổi được Ba Đình.
Mặc dù tuổi già sức yếu (lúc này ông đã 60 tuổi) nhưng Phạm Bành luôn có mặt ở trận địa, nơi nguy hiểm nhất để động vên và khích lệ các nghĩa binh chiến đấu.
Ba Đình thất thủ, ông đưa nghĩa quân rút về căn cứ dự phòng ở Mã Cao (Yên Định) ngay đêm 20-2-1887, rồi lánh về quê. Nhưng sau để cứu mẹ già và con là Phạm Tiêu bị giặc bắt làm con tin, ông đã ra đầu thú và uống thuốc độc tự tử ngay sau khi mẹ và con được thả ngày 18 - 3 năm Đinh Hợi (tức ngày 11 - 4 - 1887) để tỏ rõ khí tiết của mình.
 

conlulu

Thành viên mới
NGUYỄN BẶC (924 - 980)

Danh tướng của Đinh Bộ Lĩnh. Ông quê ở Gia Miêu (nay là xã Hà Phong, huyện Hà Trung, Thanh Hoá). Xét trong gia phả, ông là tổ tiên của Nguyễn Kim và dòng họ của vua nhà Nguyễn khởi đầu là Gia Long (Nguyễn ánh). Ông theo Đinh Bộ Lĩnh đánh dẹp 12 sứ quân từ buổi đấu, thường được cử chỉ huy một đạo quân lớn đánh vào sào huyệt các sứ quân. Nhà Đinh thành lập, ông được phong Định Quốc Cồng (971). Năm 979 vua Đinh cùng con là Nam Việt Vương Đinh Liễn bị Đỗ Thích ám hại, ông truy bắt được, chém chết. Sau đó , ông cùng với Lê Hoàn, Đinh Điền đưa con nhỏ của Đinh Tiên Hoàng là Đinh Toànlên ngôi vua. Do vua nối ngôi còn nhỏ (6 tuổi), Lê Hoàn được cử làm Nhiếp chính. Ông nghi ngờ Lê Hoàn có ý muốn cướp ngôi nên đã cùng với Đinh Điền, Phạm Hạp dấy quân, tiến công vào kinh thành. Quân của Lê Hoàn nhờ chuẩn bị trước đã đánh bại cuộc tiến công. Ông bị bắt và bị xử tử.
 

conlulu

Thành viên mới
LƯƠNG ĐẮC BẰNG (1472 - ?)

Ông quê ở làng Hội Triều, huyện Hoằng Hoá, đỗ Bảng nhãn khoa Kỷ Mùi (1499) đời Lê Hiến Tông, làm quan đến Tả thị lang bộ Lại dưới triều Lê Tương Dực. Năm 1510, ông dâng ''kế sách trị bình'' 14 điều lên vua yêu cầu sửa sang chính trị. Nhà vua khen ngợi nhưng không thi hành. Sau thăng lên Thượng thư bộ Lại kiêm Đông các đại học sĩ, tước Đôn Trung Bá. Ông xin nghỉ việc lui về ở ẩn. Ông là thân sinh của Lương Hữu Khánh và Lương Khiêm Hanh, tất cả đều nổi tiếng thần đồng từ bé.
Có tài liệu nói Lương Đắc Bằng tinh thông thuật số, truyến lại cho học trò là Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nhưng hiện nay, ngoài bản ''kế sách trị bình'', ông không để lại tác phẩm nào khác.
 

conlulu

Thành viên mới
ĐỖ BÍ (Thế kỉ XV)

Ông quê ở thôn Cung Hoàng (nay thuộc huyện Nông Cống, Thanh Hoá). Ông tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn ngay từ những buỗi đầu.
Tháng 4 năm Mậu Tuất (1418), quân Minh vây đánh, bộ chỉ huy bị vây hãm ở núi Chí Linh hơn 3 tháng trời, ông luôn đi sát để bảo vệ Lê Lợi.
Ông là một vị tướng có tài. Năm 1424, ông được cử tham gia chỉ huy trận Khả Lưu, chặn đứng cuộc hành quân của giặc, không cho chúng đánh chiếm lại Trà Lân- một vị trí hết sức quan trọng án ngữ mạch giao thông phía tây Nghệ An. Trận này ta thắng lớn, làm thay đổi hẳn tình hình theo chiều hướng có lợi cho Lam Sơn.
Tháng 9 năm 1426, Lê Lợi và bộ chỉ huy Lam Sơn quyết định tiến quân ra Bắc,ông được cử cùng với các tướng Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả và Lý Triện chỉ huy đạo quân thứ nhất gồm 3000 quân và một thớt voi, có nhiệm vụ uy hiếp mặt Nam thành Đông Quan. Khi vừa tiến ra phía Nam thành Đông Quan, đạo quân này đã lập được ba chiến công vang dội: thắng trận Ninh Kiều (9-1426), trận Nhân Mục (9-1426), trận Xa Lộc (10-1426). Ông đã vinh dự được chỉ huy trực tiếphai trận Ninh Kiều và Nhân Mục.
Tháng 11 năm 1426, nhà Minh sai Vương Thông đem 5 vạn quân sang cứu nguy, đóng ở Đông Quan hòng làm thay đổi tương quan lực lượng. Mặc dù vậy, ông và các tướng chỉ huy cũng hạ quyết tâm chủ động đánh giặc, trận phục kích Tốt Động- Chúc Động thắng lợi đã thể hiện điều đó, buộc Vương Thông phải rút về cố thủ trong thành Đông Quan. Từ đây nghĩa quân vây chặt Đông Quan. Ngày 7 tháng 2 năm Đinh Mùi (tức ngày 4-3-1427), Vương Thông bất ngờ tấn công vào khu vực đóng quân của ông và Lý Triện ở Qủa Động. Trận này, Lý Triện đã anh dũng hy sinh, còn ông thì bị bắt, mãi đến khi Vương Thông đầu hàng mới được trao trả.
Năm 1428, sau thắng lợi hoàn toàn, lúc luận công ban thưởng, ông được ban quốc tính, tước Huyện hầu (là 1 trong số 14 người được ban tước này).
Trong suốt 20 năm làm quan trong triều, ông vẫn luôn liêm khiết và được tín nhiệm. Năm 1448, lúc vua Lê Nhân Tông cùng đông đả bá quan văn võ về bái yết Lam Kinh, ông và Nguyễn Thận vinh dự được ở lại coi giữ kinh thành Thăng Long. Sau ông mất vào năm nào, không thấy sử chép.
 

conlulu

Thành viên mới
BÙI BỊ (Thế kỉ XV)

Ông quê ở Hào Lương, huyện Lương Giang (nay là huyện Thọ Xuân, Thanh Hoá). Ông tham gia khởi nghĩa Lam Sơn từ những ngày đầu. Năm 1418, ông cùng với Trịnh Khả bơi theo thuyền giặc, bí mật giành lại hài cốt của tổ tiên Lê Lợi khi giặc Minh hèn hạ trả thù bằng cách quật mồ mả.
Khi giặc ồ ạt tiến công vào Lam Sơn, bắt được gia quyến của Lê Lợi, nghĩa quân phải rút về Chí Linh. Sau đó nghĩa quân khiêu chiến, phục binh ở Mường Một, giặc thua to. Trong một loạt trận đánh ở Mường Một, Mường Nanh, Nga Lạc, Mỹ Canh thì trận Mỹ Canh là trận tương đối lớn. Ta bắt được tướng giặc là Nguyễn Sao và giết được hơn một ngàn tên. Trong trận này, ông đã lập công lớn.
Tháng 4 năm 1427, viện binh của giặcdo Lý An chỉ huy từ Tây Đô vào cứu nguy cho thành Nghệ An. Thấychỗ sơ hở của giặc, Lê Lợi cử Đinh Lễ, Bùi Bị, Lê Sát, Lý Triện, Lưu Nhân Chú đem 2 ngàn quân bất ngờ tiến công thẳng ra Tây Đô. Với cuộc hành quân kiên quyết, táo bạo và cấp tốc, ông và các tướng đã giải phóng hầu hết đất Thanh Hoá, buộc giặc phải co về cố thủ trong thành Tây Đô. Từ đây, miền đất rộng lớn và liên hoàn từ Thanh Hoá trở vào Nam đã thuộc về Lam Sơn.
Tháng 9 năm 1426, Lê Lợi cử một vạn quân tiến ra Bắc, chia làm ba đạo khác nhau. Ông có vinh dự được cùng với các tướng Lưu Nhân Chú, Lê Ninh chỉ huy đạo quân thứ hai tiến ra vùng Thái Bình, Nam Định, Hưng Yên để giải phóng vùng hạ lưu sông Hồng và chặn địch từ Nghệ An, Tây Đô tháo chạy ra. Nhiệm vụ đầu tiên ta đã hoàn thành còn nhiệm vụ chặn địch không hoàn thành, hai vạn quân địch vẫn chạy ra được Đông Quan.
Sau trận Tốt Động-Chúc Động, bộ chỉ huy nghĩa quân chuyển đại bản doanh ra Bắc, đóng tại Tây Phù Liệt (Hà Nội) để uy hiếp thành Đông Quan. Ông và Trần Nguyên Hãn được lệnh đem hơn một trăm chiến thuyền, đánh mạnh vào khu vực Hát Môn. Vương Thông hốt hoảng phải co về cố thủ trong thành Đông Quan.
Cuối năm 1427, khi Vương Thông đầu hàng, ta tổ chức Hội thề Đông Quan, ông được vinh dự là một trong 13 tướng cùng Lê Lợi tham dự.
Năm 1428, triều Lê định công ban thưởng, ông được ban quốc tính họ Lê, tước Huyện hầu. Sau không rõ ông mất vào năm nào.
 

conlulu

Thành viên mới
PHẠM XUÂN BÍCH (1784-1833)

Ông quê ở xã Định Tiến, huyện Yên Định, Thanh Hoá, đậu cử nhân khoa Tân Tỵ (1821) đời Minh Mạng. Ông đã từng làm Huấn đạo tỉnh Nghệ An, tri huyện Hưng Hoá, tri phủ Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc), sau được vời về kinh đô Huếlàm Lang trung bộ Công, rồi Tả thị lang bộ Lại. Năm 1831, tình hình Nam Bộ có nhiều biến loạn, quân Cao Miên thường sang cướp phá, ông được cử làm Hiệp trấn tỉnh Hà Tiên, sau thăng lên Tuần phủ. Năm 1833, quân Cao Miên vào cướp phá, ông cố giữ thành để chống cự, nhưng không có tiếp viện nên thành bị hạ, ông bị sa vào tay giặc. Quân giặc dụ hàng nhưng ông không chịu khuất phục và bị chúng giết hại. Sau đó, quân triều đình đã đánh tan quân giặc.
Ông được vua Minh Mạng truy tặng Trung phụng Đại phu, hàm Nhị phẩm, được thờ ở đền Trung Liệt tại Huế. Năm 1836, triều đình cho rước hài cốt của ông về táng ở Tràng Lang, Định Tiến tại cánh đồng Đồi Quang.
 

conlulu

Thành viên mới
ĐINH BỒ (?-1427)

Danh tướng cụôc khởi nghĩa Lam Sơn. Ông quê ở Thuỷ Cối (nay thuộc xã Minh Tiến, huyện Ngọc Lặc, Thanh Hoá), là em Đinh Lễ, anh Đinh Liệy, là cháu bên ngoại của Lê Lợi. Lúc đầu ông được phân công phụ trách việc quân lương. Sau đó, ông được cử chỉ huy đội quân Thiết Đột. Đội quân Thiết Đột do ông chỉ huy rất giỏi phục kích nên đã từng thắng nhiều trận như: trận Lạc Thuỷ (1418); trận Nga Lạc (1419); trận Thi Lang (1420), trận này đội quân của ông đã tiêu diệt được hơn một ngàn tên địch, Lý Bân và Phương Chính đã thoát chêt trong trận này.
Khi tiến quân vào Nghệ An,ông đã lập nhiều công trong trận hạ đồn Đa Căng, trận Trà Lân, trận Khả Lưu. Vì vậy ông được phong chức Thượng tướng, hàm Thiếu bảo. Tháng 7 năm ất tỵ (1425), ông được cử chỉ huy một ngàn quân cùng với tướng Doãn Nỗ, Lê Định tiến vào giải phóng Tân Bình-Thuận Hoá để mở rộng địa bàn về phía Nam. Cùng với sự phối hợp của thuỷ quân, vùng Tân Bình-Thuận Hoá được giải phóng. Ông được cử ở lại làm trấn thủ nơi này.
Cuộc kháng chiến đang chuẩn bị bước vào giai đoạn quyết liệt nhất thì vết thương của ông trong trận Hồ Xá lại tái phát, rất nhiều lương y đã cố giắng chạy chữa nhưng không được. Ông mất vào ngày 15 thàng 7 năm Đinh Mùi (1427). Nghe tin dữ, Lê Lợi đã sai người mang sắc phong quốc tính, tước Thái bảo và áo gấm đỏ vào khâm liệng.
Năm 1428, khi Lê Lợị lên ngôi đã gia phong cho ông tước Uy dũng Đại vương, Trung đẳng Phúc thần và sai lập đền thờ ở Thuận Hoá.
 

conlulu

Thành viên mới
NGUYỄN HỮU CẢNH (KÍNH) (1650-1700)

Danh tướng của chúa Nguyễn ở Đàng Trong, người có công thành lập các dinh Trấn Biên (Đồng Nai), Phiên Trấn (Gia Định). Ông là con của Chiêu Vũ Hầu Nguyễn Hữu Dật. Ông là người Gia Miêu, huyện Tống Sơn (nay là huyện Hà Trung, Thanh Hoá). Năm 1692, ông làm Tổng binh đánh dẹp cuộc nổi dậy của Bà Tranh và lập trấn Thuận Thành (thuộc Ninh Thuận, Bình Thuận ngày nay), sau đó lại dẹp cuộc nổi dậy của A Ban câu kết với ốc Nha Thát. Nhờ đó ông được cử làm trấn thủ dinh Bình Khang (vùng Khánh Hoà-Bình Thuận). Năm 1698, ông được chúa Nguyễn cử làm Thống suất chưởng cơ kinh lược vùng Gia Định (đồng bằng sông Cửu Long). Hơn một năm sau, ông đã tổ chức được các đơn vị hành chính, xây dựng chính quyền các dinh, huyện, xã và chiêu tập dân nghèo khai hoang định cư lập làng xóm. Sau khi ông mất, chúa Nguyễn phong tặng là Hiệp trấn công thần, đặc tiến Chưởng cơ dinh Tướng quân, Lễ Tài hầu, an táng tại Cù Lao Phố (Biên Hoà, Đồng Nai). Nhiều làng, ấp ở Gia Định thờ ông làm thành hoàng.
 

conlulu

Thành viên mới
ĐINH LỄ (?-1427)

Là công thần khai quốc nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam, người Lam Sơn, Thọ Xuân, Thanh Hoá, Việt Nam.

Gia phả họ Đinh Danh ở Thái Bình nói rằng ông là dòng dõi của Nam Việt vương Đinh Liễn con vua Đinh Tiên Hoàng.

Đinh Lễ là cháu gọi Lê Lợi bằng cậu. Ông là người dũng cảm, nhiều mưu lược, võ nghệ hơn người, khi còn trẻ thường làm cận vệ cho Lê Lợi. Những ngày đầu khởi nghĩa Lam Sơn ông theo Lê Lợi chiến đấu vùng núi chí Linh trải qua nhiều gian khổ.
Năm 1424, quân Lam Sơn tiến vào Nghệ An, đánh nhau to với quân Minh ở Khả Lưu. Đinh Lễ cùng Lê Sát xông lên phía trước, các tướng sĩ thấy vậy cùng tiến theo, đánh bại quân Minh, đuổi Trần Trí, Sơn Thọ, bắt được nhiều tù binh. Sau trận đó ông được Lê Lợi phong chức Tư không.
Năm 1425, quân Lam Sơn vây Lý An, Phương Chính ở Nghệ An, Đinh Lễ được sai đi tuần ở Diễn châu. Ông đặt phục binh ngoài thành, đón đánh tướng Minh là Trương Hùng vận 300 thuyền lương từ Đông Quan (Hà Nội) tới. Hùng bỏ chạy, Đinh Lễ cướp được thuyền lương, thừa thế đuổi đánh quân Minh đến tận Tây Đô (Thanh Hoá).
Lê Lợi sai Lê Triện, Lê Sát tiếp ứng cho ông, đánh tan quân Minh buộc địch rút vào thành. Đinh Lễ chiêu dụ dân cư Tây Đô, chọn người khoẻ mạnh đầu quân vây thành.
Tháng 8 năm 1426, sau khi làm chủ từ Thanh Hoá đến Thuận Hoá, Lê Lợi chia quân cho các tướng làm 3 cánh bắc tiến. Phạm Văn Xảo, Đỗ Bí, Trịnh Khả, Lê Triện ra phía Tây bắc, Lưu Nhân Chú, Bùi Bị ra phía Đông bắc; Đinh Lễ cùng Nguyễn Xí ra đánh Đông Quan.
Lê Triện tiến đến gần Đông Quan đánh bại TrầnTrí. Nghe tin viện binh nhà Minh ở Vân Nam sắp sang, Triện chia quân cho Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả ra chặn quân Vân Nam, còn Triện và Đỗ Bí hợp với quân Đinh Lễ, Nguyễn Xí đánh Đông Quan (Thăng Long, Hà Nội).
Phạm Văn Xảo phá tan viện binh Vân Nam. Vua Minh lại sai Vương Thông mang quân sang tiếp viện. Thông hợp với quân ở Đông Quan được 10 vạn, chia cho Phương Chính, Mã Kỳ. Lê Triện, Đỗ Bí đánh bại Mã Kỳ ở Từ Liêm, lại đánh luôn cánh quân của Chính. Cả hai tướng thua chạy, về nhập với quân Vương Thông ở Cổ Sở. Lê Triện lại tiến đánh Vương Thông, nhưng Thông đã phòng bị, Triện bị thua phải rút về Cao Bộ, sai người cầu cứu Đinh Lễ, Nguyễn Xí.
Đinh Lễ cùng Nguyễn Xí đem quân đến đặt phục binh ở Tốt Động, Chúc Động. Nhân bắt được thám tử của Vương Thông, hai tướng biết Thông định chia dường, hẹn nhau khi pháo nổ thì quân mặt trước mặt sau cùng đánh úp Lê Triện. Ông và Nguyễn Xí bèn tương kế tựu kế dụ Thông vào ổ mai phục Tốt Động, rồi đốt pháo giả làm hiệu cho quân Minh tiến vào. Quân Vương Thông mắc mưu rơi vào ổ phục kích, bị đánh thua to. Trần Hiệp, Lý Lượng và 5 vạn quân Minh bị giết, 1 vạn quân bị bắt sống. Thông cùng các tướng chạy về cố thủ ở Đông Quan.
Lê Lợi được tin thắng trận liền tiến đại quân ra bắc, vây thành Đông Quan. Đinh Lễ được lệnh cùng Nguyễn Xí mang quân vây phía nam thành.
Tháng 2 năm 1427, tướng Minh là Phương Chính đánh úp Lê Triện ở Từ Liêm, Triện bị tử trận. Tháng 3 Vương Thông đánh trại quân Lam Sơn ở Tây Phù Liệt. Tướng Lê Nguyễn cố thủ rồi cầu viện binh. Đinh Lễ cùng Nguyễn Xí được lệnh mang 500 quân thiết đột tiếp viện, đánh đuổi quân Minh đến My Động. Hậu quân Lam Sơn không theo kịp, Vương Thông thấy vậy bèn quay lại đánh, hai tướng cưỡi voi bị sa xuống đầm lầy, bị quân Minh bắt mang về thành. Đinh Lễ không chịu hàng nên bị địch giết. Lê Lợi nghe tin ông mất rất thương tiếc.
Năm 1428, khi Lê Lợi lên ngôi vua truy tặng ông làm Nhập nội kiểm hiệu tư đồ. Năm 1484, Lê Thánh Tông gia phong làm thái sư Bân quốc công, về sau tấn phong Hiển Khánh vương.
Em Đinh Lễ là Đinh Liệt cũng là một công thần khai quốc nhà Hậu Lê. Cả hai anh em ông đều được đặt tên phố ở trung tâm Hà Nội ngày nay.
 

conlulu

Thành viên mới
ĐINH LIỆT (?-1471)

Là công thần khai quốc nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam, người Lam Sơn, huyện Thọ Xuân, Thanh Hoá, Việt Nam.
Gia phả họ Đinh Danh ở Thái Bình nói rằng ông là dòng dõi của Nam Việt vương Đinh Liễn con vua Đinh Tiên Hoàng.
Đinh Liệt cùng anh ruột là Đinh Lễ là cháu gọi Lê Thái Tổ bằng cậu. Ông khi còn trẻ thường đi theo cận vệ cho Lê Lợi.
Những ngày đầu khởi nghĩa Lam Sơn, ông theo Lê Lợi chiến đấu vùng núi chí Linh trải qua nhiều gian khổ.
Năm 1424, quân Lam Sơn chiếm được thành Trà Lân, sắp đánh thành Nghệ An. Các tướng Minh mang quân thuỷ bộ cùng đến. Lê Lợi chia cho Đinh Liệt 1000 quân sai đi theo đường tắt chiếm trước huyện Đỗ Gia (nay là huyện Hương Sơn). Lê Lợi nhử địch vào ổ phục kích để Đinh Liệt đánh tập hậu, quân Minh thua to.
Năm 1427, quân Lam Sơn vây Đông Quan (Hà Nội), anh ông là tướng Đinh Lễ bị tử trận. Lê Lợi bèn phong ông làm Nhập nội thiếu uý Á hầu.
Cuối năm 1427, Liễu Thăng mang viện binh sang, ông được lệnh cùng Lê Sát mang quân lên Chi Lăng, góp sức diệt địch, chém được Liễu Thăng, đánh tan đạo viện binh.
Đầu năm 1428 ông được xếp vào chức thủ quân thiết đột. Trong số những công thần theo Lê Lợi từ hội thề Lũng Nhai thì Đinh Liệt được xếp hàng đầu, phong làm Suy trung Tán trị hiệp mưu bảo chính công thần Vinh lộc đại phu tả kim ngô đại tướng quân, tước Thượng tri tự.
Năm 1429, khi khắc biển công thần, Đinh Liệt được phong làm Đình Thượng hầu.
Năm 1432, ông được phong làm Nhập nội tư mã, tham dự triều chính.
Tháng 5 năm 1434 đời Lê Thái Tông có quân Chiêm Thành vào cướp phá, ông được lệnh lĩnh các quân Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hoá đánh địch. Quân Lê đi đến Hoá Châu, vua Chiêm vội rút về.
Năm 1444 đời Lê Nhân Tông, vua còn nhỏ, có người vu cáo ông, thái hậu Nguyễn Thị Anh cầm quyền nhiếp chính sai giam cả nhà ông dưới hầm. Nhờ có người trong hoàng tộc là Lê Khắc Phục và công chúa Ngọc Lan xin hộ, đến tháng 6 năm 1448 ông mới được tha ra, nhưng vợ con vẫn bị giam. Đến tháng năm 1450 gia đình ông mới được thả.
Trong niên hiệu Diên Ninh của Lê Nhân Tông (1454-1459), ông được giữ chức thái bảo.
Năm 1459, anh vua Nhân Tông là Lê Nghi Dân giết vua cướp ngôi. Ông cùng Nguyễn Xí, Lê Lăng cầm đầu các tướng làm binh biến lật đổ Nghi Dân đưa hoàng tử Tư Thành lên ngôi, tức là vua Lê Thánh Tông. Tháng 6 năm 1460 ông được phong chức Khai phủ nghi đồng tam ty, Bình chương quân quốc trọng sự, Nhập nội thái phó Á quận hầu. Trong năm đó ông liên tiếp được gia phong.
Tháng 12 năm 1460, ông cùng Lê Lăng đi đánh tù trưởng họ Cầm làm loạn, được thăng lên chức thái sư phụ chính.
Năm 1465, Nguyễn Xí mất, Đinh Liệt làm quan đầu triều, từ đó thường quyết định nhiều việc lớn của triều đình, được vua và các quan lại rất tôn trọng.
Năm 1470, Lê Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành, ông làm chức Chinh lỗ tướng quân, cùng Lê Niệm (cháu nội Lê Lai) làm tiên phong đi trước, đánh chiếm kinh thành Đồ Bàn, bắt vua Chiêm là Trà Toàn.
Năm 1471, ông mất, được truy phong là Trung Mục vương. Ông là một trong những công thần khai quốc sống lâu nhất sau khi nhà Hậu Lê thành lập, sống tới tận thời Hồng Đức. Con cháu Đinh Liệt sau tiếp tục nối đời làm quan cho nhà Hậu Lê và thời Lê-Trịnh.
Theo gia phả họ Đinh Danh ở Thái Bình, Đinh Liệt còn để lại một số bài thơ nói về Vụ án Lệ Chi Viên đương thời. Ông cùng anh là Đinh Lễ đều được đặt tên phố ở trung tâm Hà Nội ngày nay.
 

conlulu

Thành viên mới
Trần Khát Chân (1370-1399)
Danh tướng cuối thời Trần. Ông quê ở Hà Lãng, huyện Vĩnh Ninh (nay là huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hóa), xuất thân từ một gia đình quý tộc, ba đời làm Thượng tướng quân, thuộc dòng dõi của Trần Bình Trọng.
Cuối thời Trần, triều đình suy yếu, quân Chiêm Thành lợi dụng tình hình đó đã liên tiếp kéo quân ra đánh phá, cướp bóc, chiếm cả kinh thành, vua tôi nhà Trần phải bỏ thành chạy trốn.
Mùa đông năm 1389, quân Chiêm do Chế Bồng Nga chỉ huy lại đem quân ra đánh phá Thanh Hóa, Hồ Quý Ly không chống nổi, bỏ trốn về kinh sư, quân Chiêm được thể đánh ra. Trước tình hình nguy cấp đó, ông được …… cử làm tướng chỉ huy quân Long Tiệp đi đánh giặc, ông đem quân đến đóng chốt sông Hải (tức sông Luộc, thuộc địa phận huyện Hưng Hà, Thái Bình bây giờ). Đầu năm 1390, vua Chiêm Chế Bồng Nga được hàng tướng là Nguyên Diệu chỉ dẫn đem hơn một trăm chiến thuyền định tấn công trận địa Hải Triều của ta. Khi đó có một tướng của Chế Bồng Nga là Ba Lậu Kê có tội, sợ bị giết liền chạy trốn sang doanh trại quân ta xin hàng. Hắn đã báo cho Trần Khát Chân biết chiếc thuyền chở vua Chiêm. Ông đã ra lệnh cho tập trung có súng nhất loại bắn vào chiếc thuyền đó, Chế Bồng Nga trúng đạn chết ngay tại trận, sau đó ông cắt lấy thủ cấp mang về hành tại của Thượng Hoàng ở Bình Than đi báo tin thắng trận. Sau chiến thắng đó, quân Chiêm không còn dám đem binh tấn công vào Đại Việt nữa.
Với công lao trên, ông được phong làm Long Tiệp bổng thần nội vệ Thượng tướng quân, tước Vũ tiết quan nội hầu, ban cho thái ấp riêng ở vùng Kẻ Mơ (Hà Nội ngày nay).
 

conlulu

Thành viên mới
Nguyễn Chích (1382-1448)
Danh tướng của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Ông quê ở thôn Mạc Xá, Vạn Lộc (nay thuộc xã Đông Ninh, huyện Đông Sơn).
Ông mồ côi cả cha lẫn mẹ từ nhỏ. Ông là người ít nói, ít cười, hiền lành, trung thực, có chí lớn.
Năm 1407, giặc Minh xâm lược, ông đã dựng cờ khởi nghĩa ở quê nhà. Phạm vi hoạt động của ông ở vùng Đông Sơn, Thiệu Hoá, Yên Định, Nông Cống ngày nay. Sau, ông chuyển căn cứ lên vùng núi Hoàng Nghiêu nằm giáp giữa ba huyện Đông Sơn, Nông Cống và Triệu Sơn, ông dựa vào thế núi sông hiểm trở xây thêm thành luỹ, làm bãi tập quân, mở rộng lực lượng, phạm vi hoạt động ra khắp vùng phía Nam Thanh Hoá và bắc Nghệ An.
Năm 1418, Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn (Thọ Xuân, Thanh Hoá), nghe thanh thế của ông, Lê Lợi đã sai người mang thư đến mời ông về cùng tham gia quân Lam Sơn. Ông đồng ý theo Lê Lợi, nhưng thời gian đầu ông vẫn ở căn cứ Hoàng Nghiêu. Từ Hoàng Nghiêu, ông mang quân ra đánh Lương Nhữ Hốt ở đồn Cổ Vô, được Lê Lợi phong chức Vinh lộc đại phu Lân hổ vệ tướng quân. Sau đó, Lê Lợi lại phong ông làm Đô đốc đạo phủ quản tổng đô đốc quân dân, tước Quan nội hầu.
Cuối năm 1420, ông mang toàn bộ lực lượng gia nhập với Lê Lợi – lúc đó đóng ở Mường Nanh, được Lê Lợi phong làm Thiết đột hữu vệ Đồng tổng đốc chủ quân sự.
Từ năm 1421 đến 1423, ông tham gia nhiều trận đánh như trận Ba Lẫm (12/1421) và trận Sách Khôi (2/1422) đánh bại 10 vạn quân Minh của Trần Trí. Ông được Lê Lợi thăng lên chức thiếu uý.
Năm 1424, do từ khi khởi nghĩa cho đến giờ địa bàn hoạt động chỉ bó hẹp trong miền thượng du Thanh Hoá nên Lê Lợi đã mở một cuộc họp bàn tính kế hoạch để mở rộng địa bàn hoạt động, ông đã đề nghị tiến xuống Nghệ An: “Nghệ An - là nơi hiểm yếu, đất rộng người đông. Tôi đã từng qua lại Nghệ An nên rất thông thuộc đường đất. Nay hãy đánh trước lấy Trà Lân, chiếm cho được Nghệ An để làm chỗ đứng chân, rồi dựa vào nhân lực tài lực đất ấy mà quay ra đánh Đông Quan thì có thể tính xong việc dẹp yên thiên hạ.”.
Kế hoạch sáng suốt đó của ông được Lê Lợi và bộ tham mưu chấp nhận.
Đầu năm 1427, ông cùng tướng Bùi Quốc Hưng mang quân bao vây, hạ thành Tiêu Diêu (Gia Lâm, Hà Nội), Thị Cầu (Bắc Ninh), quân Minh trong hai thành này phải mở cửa ra hàng.
Cuối năm 1427, ông cùng Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả, Lê Khuyển đánh tan đạo quân viện binh do Mộc Thạnh chỉ huy ở ải Lê Hoa (Hà Giang).
Khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi, Lê Lợi lên ngôi, lập ra nhà Hậu Lê. Năm 1429, ông được phong Bảo chính công thần, tước Đình thượng hầu, ban quốc tính. Từ đó ông được gọi là Lê Chích.
Thời gian đầu, ông được tham gia triều chính nhưng sau đó bị Lê Lợi cách chức. Các nhà nghiên cứu cho rằng, sử không chép rõ về tội lỗi của ông, việc ông bị cách chức do sự nghi ngại công thần của Lê Lợi.
Năm 1433, Lê Thái Tổ mất, Lê Thái Tông lên ngôi, ông được phục chức làm Đồng tổng quản châu Hoá, trấn thủ Thát Ải.
Quân Chiêm Thành hai lần cướp phá, ông đều chặn đánh tan, giữ yên biên giới phía nam. Sau đó, Lê Chích còn lập công trong 2 lần đi đánh Chiêm Thành, được phong tước Đình hầu.
Tháng Chạp năm 1448, ông mất, thọ 67 tuổi, được truy tặng làm Nhập nội tư không bình chương sự, Hiến quốc công, thuỵ hiệu là Trinh Vũ.
 

Facebook Comment

Bài viết mới

Chủ đề được quan tâm nhất

Top